Chùa Đồng – Yên Tử

Yên Tử cách thị xã Uông Bí (Quảng Ninh) 14 km về phía Tây Bắc. Theo Thiền sử, Yên Tử là nơi ra đời và phát triển thiền phái Trúc Lâm với ba vị tổ: Trần Nhân Tông (1258-1308) pháp danh Ðiều Ngự Giác Hoàng, là ông tổ thứ nhất. Pháp Loa tôn giả (tên thật Ðồng Kiên Cương, 1284 -1330) là ông tổ thứ hai. Lý Ðạo Tái (1254 -1334 ) pháp danh Huyền Quang tôn giả, là ông tổ thứ ba.

Xưa kia, đường lên núi Yên Tử, lên đỉnh Phù Vân huyền thoại, chỉ có một cách duy nhất là theo đường đi bộ, len lỏi theo lối mòn vượt qua bạt ngàn cây cỏ, dưới tán rừng trúc, rừng thông. Còn bây giờ, du khách có thêm một sự lựa chọn: theo đường cáp treo hiện đại vượt quãng đường trên 1km để có thể ngắm cảnh núi rừng Yên Tử từ trên cao, sau đó lại tiếp tục đi bộ đến thăm các điểm khác trong khu vực thắng cảnh. Tuy thế, rất nhiều người vẫn chọn con đường du lịch truyền thống để thăm toàn tuyến du lịch vì họ có thể chậm rãi thăm thú tất cả những gì mà thiên nhiên đất trời tạo lập nơi đây. Đó là con đường dài trên 6km đã được gia cố bởi hàng nghìn bậc đá xếp, rất chắc chắn và rất thuận tiện cho dù độ dốc khá lớn. Trước hết, khi tới chân núi theo một lối mòn, rẽ tay phải, đang còn trong cảnh rậm rạp ta đã nghe thấy tiếng nước chảy róc rách. Đó là suối Giải Oan trong veo chảy ngoằn ngoèo trên nền đá cuội và sỏi trắng. Nối hai bên bờ suối là cây cầu đá xanh, dài 10m, có kiến trúc không cầu kỳ nhưng lại toát lên vẻ cổ kính, vững chãi. Chính ở dòng suối này, lòng ta trào dâng niềm thương cảm, câu chuyện bi thương về 100 cung nữ đã quyên sinh tại đây vì không được theo vua.

Tục truyền rằng, xưa kia vua Trần Nhân Tông nhường ngôi lại cho con là Trần Anh Tông rồi tìm đến cõi Phật . Vua Nhân Tông có rất nhiều cung tần và mỹ nữ. Họ đã khuyên ông trở về cung gấm nhưng không được nên đã gieo mình xuống suối tự vẫn. Để giải oan cho linh hồn của họ, vua Trần Nhân Tông đã lập chùa hợp cúng. Ngôi chùa và con suối từ đó, mang tên là “Giải Oan”. Dưới ân đức cao dày và lòng từ bi, bồ tát của vua Trần Nhân Tông, những cung nữ còn sống sót đã được làm nhà, cấp ruộng cấy cày dưới chân núi, lấy chồng sinh con, lập thành làng Nương, nàng Mụ, tức xã Thượng Yên Công (Uông Bí) ngày nay. Theo chuyện xưa, chùa Giải Oan không chỉ là nơi lập đàn tràng giải oan cho các cung nữ mà còn là nơi Đệ Tam Tổ Huyền Quang giải nỗi oan khuất của mình với nàng Điểm Bích, trước khi về kinh đô làm lễ sám hối cho triều đình. (Thời vua Trần Minh Tông). Ngay sau chùa Giải Oan, đi lên chừng 400m, rẽ trái khoảng 50m, đến am Lò Rèn. Tương truyền từ thời Phật hoàng Trần Nhân Tông về Yên Tử, ngài dựng am để rèn dụng cụ lao động cho các chùa và nhân dân quanh vùng. Qua am Lò Rèn, là khu tháp Tổ đồ sộ tức Huệ Quang Kim tháp, ở độ cao 700m, lưu giữ xá lợi của đức Tổ thứ nhất Trần Nhân Tông sau khi viên tịch. Ngài tịch tại am Ngọa Vân, vị tổ thứ hai là sư Pháp Loa đem xác nhà vua hỏa thiêu và chôn nơi đây.

Con đường lên tháp Tổ xếp bậc đá dẫn thẳng đến trước cửa khu tháp dưới bóng một cây thông già gần ngàn tuổi, cây thẳng đứng, thân to tròn ba người ôm không xuể, cành đan vào nhau tạo nên cái tán hình tròn xương xẩu đứng cách xa chân núi hàng chục kilômét cũng nhìn thấy. Chính giữa khu tháp là lăng Quy Đức- nơi đặt mộ vua Trần Nhân Tông. Lăng Quy Đức được xây bằng gạch to, dày, nung, chín già; chát bùn đất, vôi trộn mật đường, bột giấy, gió và cát; lợp ngó mũi hài kép. Đây là một di tích thời Trần còn lại hầu như nguyên vẹn. Ở giữa lăng nổi lên một ngọn tháp lớn, là bông hoa thắm nhất trong rừng tháp Yên Tử. Tháp 6 tầng, cao 10m, bốn mặt tháp có tường vây, mỗi tầng là một khối đá xanh vuông vức. Từ dáng thu tầng độc đáo của ngọn tháp, từ các hoa văn sóng nước, hình ngọn núi được chạm ở bệ tháp, hoa văn dây lá cuốn trong cánh sen, cách ghép đá bằng những lỗ cá đổ chì, đặc biệt là pho tượng Đệ Nhất Tổ Trần Nhân Tông, chất liệu bằng đá trắng, dáng ngồi khoan thai, áo cà sa khoác chéo, lộ trần cánh tay phải với các hoa văn dây lá trên các nẹp áo đều là những tư liệu quý cho việc nghiên cứu kiến trúc và nghệ thuật thời Trần. Quây quần quanh tháp Tổ là 97 ngọn tháp khác nhau của các nhà tu hành thời Trần và thời Lê, đã trọn đời hóa thân vào cõi Phật.

Con đường từ khu tháp Tổ lên chùa Hoa Yên lát loại gạch vuông lớn in hình hoa cúc phổ biến thời Trần (ngày nay còn được 84 viên). Đáng lưu ý là gạch hoa cúc thời Trần chỉ có ở các di tích của triều đình hay hoàng tộc nhà Trần, điều đó mách bảo vị trí trang trọng của khu di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử. Gạch hoa cúc làm bằng đất nung để nát nền hoặc ốp tường, không dùng để xây, hình vuông, có cấu trúc hoa văn trên bề mặt, phản ánh ý nghĩa triết lý sâu sắc. Hình vuông lớn- biểu trưng cho đất( chứa đựng âm khí); bốn góc của hình vuông có bốn bông hoa cúc, biểu tượng của tứ tượng ( khí, thủy, hỏa, thổ); hình tròn lớn trong lòng viên gạch tượng trưng cho trời( chứa đựng dương khí); có 8 bông hoa cúc thể hiện bát quái. Hình tròn nhỏ ở giữa có hai bông hoa cúc nhỏ, thể hiện sự kết hợp của âm dương; xung quanh viên gạch theo hình vuông là các tinh tú. Qua hoa văn họa tiết trên gạch hoa cúc thời Trần.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *